Chào cờ vì Việt Nam thân yêu

Đối tác

Liên kết hữu ích

Khách truy cập

381065 lượt truy cập

Sơ đồ tư duy

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN

Ngày đăng: 14/04/2018

1. Bộ môn Ngữ văn là một môn quan trong trong nhà trường phổ thông. Bởi ngoài là môn học công cụ, môn văn còn cung cấp cho học sinh nhưng hiểu biết về văn hóa, con người Việt Nam và thế giới, hướng các em đến những giá trị cao đẹp của cuộc sống như  Chân – Thiện – Mĩ.

Quan trọng là thế song trong thực tế giảng dạy, môn Ngữ văn là một môn học khó với học sinh bởi dung lượng kiến thức rất nhiều. Học sinh phải học văn học Việt Nam (Văn học dân gian, văn học Việt Nam trung đại, cận đại, hiện đại), và văn học Thế giới (Văn học Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Phương Tây). Các kiến thức về tiếng Việt, Tập làm văn cũng  không hề đơn giản. Có rất nhiều văn bản mới được đưa thêm vào trong sách giáo khoa. Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chương trình giảm tải, lược bỏ đi một số bài học hoặc đưa bài học chính vào phần đọc thêm. Song không vì thế mà chương trình đã thật sự nhẹ nhàng. Giáo viên và học sinh vẫn phải gồng mình dạy và học để theo kịp chương trình. Thậm chí có bài giảm tải bị bỏ đi lại gây khó khăn cho việc giảng dạy những bài sau vì kiến thức lô gíc với nhau. Ví dụ trong SGK Ngữ văn 6 tập 1 giảm tải bài Danh từ (tiết 1) có đơn vị kiến thức là Danh từ đơn vị, vì thế khi dạy bài Cụm danh từ, giáo viên giúp các em xác định khái niệm Danh từ đơn vị khá khó khăn.

 

2. Thực tế hiện nay, môn Ngữ văn đang dần dần mất vị trí là một môn học chính, quan trọng  mà bị xếp sau một số môn học được coi là thực tế hơn để thi tuyển sinh vào các trường ĐH – CĐ như Toán, Hóa, Lý, Anh, Tin… Thực tiễn cho thấy, việc chọn được học sinh có năng lực học tập để bồi dưỡng học sinh giỏi văn là không dễ, bởi lẽ hầu như những em có năng lực học tập môn văn thường học giỏi đều các môn học khác và môn học mà các em lựa chọn để theo thường không phải là môn văn. Tất nhiên việc lựa chọn này còn có sự tác động của các bậc phụ huynh. Học sinh có năng lực học tập không muốn học văn, theo văn, vậy học sinh học lực trung bình và yếu thì động lực học tập môn văn là gì, thật khó trả lời!

          Mặt khác, tâm lí các em học sinh hiện nay có sự thay đổi, các em thích kiểu “ mì ăn liền”, thích nhanh chóng, thuận tiện, nhẹ nhàng. Vì thế có rất nhiều em ham mê đọc truyện tranh, đọc  một cách ngấu nghiến, thậm chí bỏ cả ăn, ngủ và học bài để vùi đầu vào những cuốn truyện tranh nhưng lại quay lưng với môn văn. Đó là sự thực rất đau lòng!

Chính vì môn văn có khối lượng kiến thức nhiều và khó, tâm lí thực dụng nặng nề nên nhiều em học sinh thấy học văn là một công việc nặng nhọc, mệt mỏi, khó khăn! Đôi khi giờ học văn đối với các em thật vất vả…

 

3. Bản đồ tư duy là một công cụ ghi chép rất nhanh. Bản đồ tư duy sử dụng  nhiều màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu, từ khóa, không gian…. Vì thế, bản đồ tư duy giúp kích thích sự sáng tạo, ghi nhớ lâu giúp việc học tập được nhẹ nhàng hơn. Việc sử dụng bản đồ tư duy trên thế giới đã diễn ra từ  lâu và hiệu quả của nó thì không cần phải bàn cãi. Ở Việt Nam, việc sử dụng bản đồ tư duy cũng không còn quá mới mẻ, nhiều thầy cô giáo mạnh dạn áp dụng vào công tác giảng dạy và đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Thời gian vừa qua, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh đã mở lớp tập huấn cho những giáo viên cốt cán ở các trường về việc lập và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học. Nhận thấy hiệu quả to lớn của bản đồ tư duy trong giảng dạy, giúp các em học sinh thêm hứng thú yêu thích với môn văn, khắc phục được phần nào hiện tượng quay mặt với bộ môn ngữ văn nói trên, chúng tôi có bài viết về việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học bộ môn văn.

4.Vậy bản đồ tư duy là gì?
Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó, “Sắp xếp” ý nghĩ của bạn.

5Tony Buzan là người sáng tạo ra phương pháp tư duy Mind Map (bản đồ tư duy). Tony Buzan từng nhận bằng Danh dự về tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường ĐH British Columbia năm 1964. Tony Buzan là tác giả hàng đầu thế giới về não bộ. 
Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốc gia trên thế giới. 
Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use your head”. Trong đó, ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp Mind Map. Ngoài ra, ông còn có một số sách nổi tiếng khác như Use your memory, Mind Map Book…

6. Cách lập Bản đồ tư duy.

- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Tại sao lại phải dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình. Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn.
- Luôn sử dụng màu sắc. Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh
- Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,.... bằng các đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng
- Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
- Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,...) 
- Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều
- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
Bản đồ tư duy trên máy tính

MindManager – Phần mềm này đã được khá nhiều tại Việt Nam. MindManager chỉ chạy được trên hệ điều hành Microsoft Windows
FreeMind Phần mềm nguồn mở, chạy trên hệ điều hành Windows, Mac và Linux. Hiện nay nhóm mã nguồn mở của HueCIT đã nghiên cứu và viết tài liệu hướng dẫn sử dụng
-  Một số phần mềm khác: ConceptDraw MINDMAP, Visual Mind, Axon Idea Processor, Inspiration,...
7. Ưu điểm của Bản đồ tư duy so với lối ghi chú tuần tự thông thường

- Chỉ ghi chú các từ liên quan, tiết kiệm từ 50 – 95% thời gian.

- Chỉ đọc các từ liên quan, tiết kiệm hơn 90% thời gian.

- Thời gian ôn bài ghi chú dạng Sơ đồ tư duy tiết kiệm 90% thời gian.

- Tránh lãng phí thời gian dò tìm các Từ khóa trong một rừng chữ dông dài, tiết kiệm 90% thời gian.

- Tăng cường tập trung vào trọng tâm.

- Dễ dàng nhận biết các từ khóa thiết yếu.

- Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung tức thời những từ khóa thiết yếu.

- Tạo mối liên kết mạch lạc tối ưu giữa các Từ khóa.

- Không như bản ghi chú tuần tự đơn điệu, tẻ nhạt, não dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ những Sơ đồ tư duy kích thích thị giác, đa sắc và đa chiều hơn.

- Suốt quá trình thực hiện Sơ đồ tư duy, chúng ta luôn bắt gặp cơ hội khám phá tìm hiểu, tạo điều kiện cho dòng chảy tư duy liên tục bất tận.

- Lập Sơ đồ tư duy hòa điệu với bản năng khát khao tụ điền chỗ khuyết và tìm sự hoàn thiện của bộ não, nhờ đó khôi phục bản năng hiếu học.

- Nhờ liên tục vận dụng mọi kĩ năng của vỏ não mà não ngày càng linh hoạt, tiếp nhận hiệu quả, và tự tin vào khả năng của mình hơn.

8. Hạn chế của Bản đồ tư duy.

- Đừng ngộ nhận sử dụng Bản đồ tư duy là đổi mới phương pháp dạy học. Cũng như CNTT, Bản đồ tư duy chỉ là phương tiện trong quá trình dạy học.

- Không phải bài nào, chương nào cũng sử dụng bản đồ tư duy cho hiệu quả cao. Cần sử dụng Bản đồ tư duy cho hợp lí và phù hợp với nội dung và hình thức bài học.

- Bản đồ tư duy nếu bị lạm dụng sẽ làm hạn chế kĩ năng viết bài luận của học sinh.

9. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy văn :

 a. Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện BĐTD. Qua BĐTD đó HS sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng.

Ví dụ: Khi học bài “ So sánh” ( Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ GV cho từ khoá “ So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ ( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.

b. Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần…: Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.

Ví dụ: Khi dạy phần từ loại Tiếng Việt, cho học sinh vẽ BĐTD sau mỗi bài học để mỗi em có 1 tập BĐTD về các từ loại Tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hẹ tự, trợ từ, thán từ…. Lên đến lớp 9, trong bài “ Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về từ loại Tiếng Việt bằng  BĐTD dựa vào tập BĐTD đã có. Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong BĐTD sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích… rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em.

c. Sử dụng Bản đồ tư duy trong tiết trả bài tập làm văn: Trong tiết trả bài, giáo viên có thể sử dụng việc lập Bản đồ tư duy trong hoạt động lập dàn ý. Giáo viên yêu cầu học sinh lập sơ đồ tư duy ra giấy, một em học sinh lên bảng vẽ. Sau đó giáo viên chữa và hoàn chỉnh sơ đồ tư duy trên bảng.

10. Sử dụng Bản đồ tư duy trong học văn:

- Học sinh tự có thể sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa… hoặc để tư duy một vấn đề mới. qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.

- Học sinh trực tiếp làm viêc với máy tính, sử dụng phần mềm Mindmap, phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng máy tính trong học tập.

11. Trong thời đại thông tin bùng nổ, kiến thức ngày một nhiều, cái mới liên tục phủ định cái cũ thì việc có một công cụ ghi nhớ và sáng tạo là vô cùng quan trọng và cần thiết. Mạnh dạn mang cái mới đến với thế hệ trẻ yêu thích sáng tạo là việc nên làm. Hi vọng việc sử dụng Bản đồ tư duy sẽ được nhân rộng để tăng hiệu quả cho quá trình dạy học môn Ngữ văn nói riêng và các môn khoa học khác.

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy góp phần dạy học tích cực và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường- tài liệu tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học.

2. Tony & Barry Buzan, Sơ đồ tư duy, Tổng hợp tp HCM, HCM,  2008.

3. Tony Buzan, Bản đồ tư duy trong công việc, Lao động Xã hội, H, 2007.

4. Tony buzan, Lập bản đồ tư duy, Lao động Xã hội, H, 2010.

5. Một số thông tin trên internet.



 



mật ong nguyên chất